GIỚI THIỆU SÁU CHÍNH SÁCH LỚN TRONG DỰ ÁN BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ SỬA ĐỔI

Người đăng: vkslaichau - ngày đăng: 19/08/2026

Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) là một trong những đạo luật giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật, trực tiếp quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành một số quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đồng thời là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm phát hiện, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, sau hơn 8 năm thi hành, cùng với những kết quả đạt được, thực tiễn đã đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Sự thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội, yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, cũng như yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm đang đặt ra những yêu cầu mới đối với pháp luật tố tụng hình sự. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Dự án BLTTHS (sửa đổi) không đơn thuần là rà soát, sửa đổi một số quy định còn bất cập của Bộ luật hiện hành, mà hướng tới tiếp tục hoàn thiện nền tảng pháp lý cho hoạt động tố tụng hình sự theo yêu cầu mới. Quá trình sửa đổi được đặt trong tổng thể chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật.

Ngày 08/7/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) tối cao đã ban hành Quyết định số 208/QĐ-VKSTC thông qua 06 chính sách của Dự án BLTTHS (sửa đổi). Sáu chính sách tập trung vào những vấn đề lớn, có tính xuyên suốt đối với quá trình đổi mới pháp luật tố tụng hình sự, từ tinh gọn thủ tục, phân hóa và khoan hồng trong xử lý tội phạm, hoàn thiện thẩm quyền và kiểm soát quyền lực, đẩy mạnh tố tụng điện tử, tố tụng trực tuyến, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế đến luật hóa những chế định đã được triển khai thí điểm và khắc phục các vướng mắc, bất cập qua tổng kết thực tiễn.

1. Bối cảnh và sự cần thiết khách quan sửa đổi toàn diện BLTTHS

BLTTHS năm 2015 được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động tố tụng hình sự, cụ thể hóa nhiều nguyên tắc tiến bộ về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường tranh tụng, kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Qua thực tiễn thi hành, nhiều quy định của Bộ luật đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ công lý. Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng hình sự luôn vận động cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội và những thay đổi của phương thức, thủ đoạn phạm tội. Qua tổng kết thi hành BLTTHS năm 2015, một số quy định đã bộc lộ những hạn chế, bất cập hoặc chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Một số thủ tục còn mang tính hành chính, chưa thực sự tinh gọn; cơ chế phân hóa thủ tục giải quyết vụ án chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu xử lý phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của từng vụ việc; thủ tục rút gọn chưa phát huy hết hiệu quả; một số vấn đề liên quan đến xử lý vật chứng, tài sản, thu hồi tài sản và áp dụng các biện pháp tố tụng còn có những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đang làm thay đổi phương thức giao tiếp, lưu trữ và trao đổi thông tin trong xã hội, đồng thời làm xuất hiện ngày càng nhiều dữ liệu điện tử có ý nghĩa đối với hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc tiếp nhận, thu thập, quản lý, sử dụng và đánh giá dữ liệu điện tử, cũng như từng bước chuyển đổi phương thức tiến hành tố tụng từ môi trường truyền thống sang môi trường điện tử, trực tuyến.

Yêu cầu hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự cũng xuất phát từ quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước và yêu cầu nâng cao hiệu quả phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực trong hoạt động tố tụng. Việc xác định rõ hơn thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, gắn quyền hạn với trách nhiệm, đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát phù hợp là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm hoạt động tố tụng được thực hiện chủ động, kịp thời, đúng pháp luật nhưng không tùy tiện, lạm quyền. Cùng với đó, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhất là trước sự gia tăng của tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia và các phương thức phạm tội dựa trên công nghệ. Pháp luật tố tụng hình sự cần có cơ chế phù hợp để đáp ứng yêu cầu phối hợp, tương trợ giữa Việt Nam và các quốc gia, tổ chức quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời bảo đảm phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Những yêu cầu trên cho thấy việc sửa đổi BLTTHS là cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn mới. Định hướng sửa đổi không chỉ nhằm khắc phục những quy định còn bất cập mà còn hướng tới đổi mới phương thức tổ chức và thực hiện tố tụng, bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu xử lý tội phạm nhanh chóng, nghiêm minh với yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân; giữa mở rộng thẩm quyền với tăng cường trách nhiệm và kiểm soát quyền lực; giữa chuyển đổi số với bảo đảm an toàn, bảo mật và giá trị pháp lý của dữ liệu. Đây chính là cơ sở để 06 chính sách của Dự án BLTTHS (sửa đổi) được xây dựng và thông qua, tạo định hướng cho việc tiếp tục hoàn thiện các quy định cụ thể của Dự án trong thời gian tới.

2. Sáu nhóm chính sách trọng tâm của Dự án BLTTHS sửa đổi

2.1. Chính sách 1: Đổi mới thủ tục tố tụng theo hướng tinh gọn, hiệu quả

Một trong những yêu cầu nổi bật của lần sửa đổi này là đổi mới thủ tục tố tụng theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nhưng không đồng nghĩa với việc đơn giản hóa một cách cơ học các trình tự, thủ tục bảo đảm pháp lý. Vấn đề cốt lõi là phải xác lập sự cân bằng giữa hai yêu cầu tưởng như đối lập: một mặt, hoạt động tố tụng phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc, trình tự có ý nghĩa bảo đảm xác định sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền con người; mặt khác, những thủ tục không còn cần thiết hoặc mang tính hành chính, kỹ thuật phải được rà soát, đơn giản hóa, tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ việc, vụ án. Theo Hồ sơ Dự án BLTTHS sửa đổi, định hướng được đặt ra là chuẩn hóa quy trình tố tụng, tinh gọn trình tự và đơn giản hóa thủ tục hành chính tư pháp; đồng thời phân hóa thủ tục giải quyết theo tính chất, mức độ phức tạp của vụ án, vụ việc và đối tượng tham gia tố tụng. Một số thủ tục được nghiên cứu cải tiến như cấp đăng ký người bào chữa, công bố Cáo trạng, thẩm tra tư cách tố tụng; đồng thời ứng dụng công nghệ số trong gửi, thông báo văn bản tố tụng.

Điểm đáng chú ý là tư duy “tinh gọn” được đặt trong tổng thể cải cách tố tụng, chứ không thuần túy rút ngắn thời gian. Tinh gọn phải đi cùng với phân hóa, bởi không thể áp dụng một mô hình thủ tục giống nhau đối với mọi vụ án, mọi hành vi và mọi chủ thể. Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng cần được giải quyết nhanh chóng; trong khi những vụ án phức tạp, có nhiều tình tiết cần làm rõ vẫn phải được bảo đảm đầy đủ các cơ chế kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng. Như vậy, chính sách thứ nhất hướng tới việc chuyển từ tư duy quản lý tố tụng nặng về quy trình sang tư duy quản trị tố tụng dựa trên hiệu quả và tính phù hợp của thủ tục.

2.2. Chính sách 2: Đổi mới thủ tục tố tụng bảo đảm phân hóa và khoan hồng trong xử lý tội phạm

Nếu chính sách thứ nhất tập trung vào phương thức tổ chức thủ tục thì chính sách thứ hai đặt trọng tâm vào cách thức Nhà nước phản ứng trước tội phạm và người phạm tội. Một điểm mới có ý nghĩa đáng chú ý là việc hoàn thiện cơ chế “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự”, đồng bộ với chính sách tương ứng trong Dự án BLTTHS sửa đổi. Theo Hồ sơ Dự án BLTTHS sửa đổi, cơ chế này nhằm thể chế hóa chủ trương về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực, mở đường cho phát triển kinh tế; đồng thời tạo cơ chế khuyến khích người phạm tội chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản. Về bản chất, đây là bước chuyển từ quan niệm xử lý hình sự là mục tiêu cuối cùng sang quan niệm xử lý hình sự phải đạt được hiệu quả tổng thể về phòng ngừa, khắc phục hậu quả, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và duy trì trật tự pháp luật. Cơ chế dự kiến được thiết kế với những điều kiện chặt chẽ: người được xem xét tạm hoãn phải có đơn đề nghị; tự nguyện thừa nhận trách nhiệm đối với hành vi, hậu quả xảy ra; cam kết hợp tác với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; có phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục khác và tài liệu chứng minh khả năng thực hiện; trường hợp cần thiết có cam kết bảo đảm thực hiện của tổ chức, cá nhân có liên quan.

Đáng chú ý, trong thời gian tạm đình chỉ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn phải theo dõi, kiểm tra việc thực hiện cam kết. Nếu người được áp dụng thực hiện đầy đủ cam kết và đáp ứng điều kiện luật định, đây có thể là căn cứ xem xét miễn trách nhiệm hình sự; nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì phục hồi giải quyết vụ việc, vụ án. Trường hợp vi phạm cam kết, bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc cản trở việc giải quyết thì hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ và tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.

Dự án Bộ luật mở rộng thủ tục rút gọn đối với bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt. Điều kiện đặt ra không chỉ là sự tự nguyện nhận tội mà còn phải có đủ chứng cứ để kết luận về hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm và căn cứ kết tội; lời nhận tội phải phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Đặc biệt, lời nhận tội của người bị buộc tội không được coi là chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội; cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải thực hiện trách nhiệm chứng minh tội phạm. Đây chính là giới hạn pháp lý quan trọng để chính sách khoan hồng không bị chuyển hóa thành sự giản đơn hóa hoạt động chứng minh tội phạm.

2.3. Chính sách 3: Hoàn thiện chế định thẩm quyền tố tụng; tăng cường kiểm soát quyền lực; bảo đảm tốt hơn quyền con người

Một nền tố tụng hiện đại không thể chỉ dựa vào việc quy định đầy đủ quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, mà phải xác lập ranh giới thẩm quyền rõ ràng, cơ chế phối hợp hợp lý và trách nhiệm tương xứng với quyền hạn được giao. Chính sách thứ ba vì vậy tập trung hoàn thiện chế định thẩm quyền tố tụng, tăng cường kiểm soát quyền lực và bảo đảm tốt hơn quyền con người.

Theo Hồ sơ Dự án BLTTHS sửa đổi, định hướng chung là tiếp tục kế thừa các quy định còn phù hợp, đồng thời quy định rõ hơn, bảo đảm phân định rành mạch về thẩm quyền giữa các cấp tố tụng và tăng thẩm quyền cho các chức danh tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Mục tiêu là bảo đảm sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, tăng cường trách nhiệm của các chủ thể và phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới của các cơ quan tiến hành tố tụng. Từ tư duy đó, nhiều thẩm quyền dự kiến được phân định trực tiếp cho những người tiến hành tố tụng. Điều tra viên được bổ sung một số thẩm quyền về thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng; truy nã, đình nã bị can; trưng cầu giám định; thực nghiệm điều tra; yêu cầu định giá tài sản; tạm đình chỉ, phục hồi điều tra; áp dụng thủ tục rút gọn... Kiểm sát viên cũng được bổ sung một số thẩm quyền nhằm nâng cao tính chủ động trong thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa được bổ sung thẩm quyền về xử lý vật chứng trong một số trường hợp và áp dụng, hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

Tăng thẩm quyền ở đây không phải là sự “nới rộng” quyền lực đơn thuần. Quyền hạn càng rõ thì trách nhiệm càng phải cụ thể; quyền quyết định càng trực tiếp thì cơ chế kiểm soát càng phải chặt chẽ. Đặc biệt, tài liệu Hồ sơ Dự án Bộ luật còn đề xuất bổ sung nguyên tắc “Bảo vệ cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, qua đó tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm những chủ thể thực thi quyền lực tố tụng có điều kiện thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền hạn được giao.

2.4. Chính sách 4: Đổi mới phương thức hoạt động tố tụng hình sự theo hướng thực hiện tố tụng điện tử, tố tụng trực tuyến

Nếu ba chính sách đầu tiên tập trung nhiều vào cấu trúc và nội dung của hoạt động tố tụng thì chính sách thứ tư mở ra một không gian mới: chuyển đổi phương thức tiến hành tố tụng trên nền tảng số. Đây không chỉ là việc đưa một số thao tác nghiệp vụ từ môi trường giấy sang môi trường điện tử. Tố tụng điện tử đòi hỏi phải thiết kế lại quy trình tiếp nhận, tạo lập, quản lý, trao đổi, lưu trữ và sử dụng tài liệu, chứng cứ; đồng thời xác định giá trị pháp lý, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát đối với dữ liệu được tạo lập, truyền nhận trong môi trường số.

Trong bối cảnh dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn thông tin quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, việc đổi mới phương thức hoạt động tố tụng hình sự theo hướng thực hiện tố tụng điện tử, tố tụng trực tuyến là bước phát triển có tính tất yếu. Quá trình xây dựng Dự án Bộ luật cũng xác định việc hoàn thiện cơ chế xử lý chứng cứ điện tử, dữ liệu số là một trong những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn thi hành Bộ luật hiện hành. Tố tụng điện tử nếu được thiết kế đồng bộ, có thể đồng thời giải quyết nhiều yêu cầu: giảm thời gian và chi phí hành chính tư pháp; nâng cao khả năng truy xuất, kiểm tra và quản lý hồ sơ; tăng tính minh bạch; tạo thuận lợi cho việc trao đổi tài liệu giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Nhưng mặt khác, chính sách này cũng đặt ra yêu cầu rất cao về tính xác thực, toàn vẹn, bảo mật của dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư. Vì vậy, chuyển đổi số trong tố tụng hình sự không thể chỉ được nhìn nhận dưới góc độ công nghệ, mà phải được đặt trong khuôn khổ bảo đảm pháp lý nghiêm ngặt.

2.5. Chính sách 5: Đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Tội phạm ngày càng không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia; tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, rửa tiền, mua bán người, ma túy và nhiều dạng tội phạm sử dụng môi trường mạng đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường hợp tác trong phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử. Trong bối cảnh đó, một BLTTHS hiện đại không thể chỉ giải quyết tốt các quan hệ tố tụng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn phải tương thích với các cơ chế hợp tác tư pháp hình sự quốc tế. Chính sách thứ năm đặt vấn đề đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, qua đó góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, những định hướng đã được xác định trong quá trình xây dựng Dự án BLTTHS sửa đổi.

Điểm quan trọng của hội nhập trong tố tụng hình sự không phải là sao chép mô hình pháp luật nước ngoài, mà là tiếp thu có chọn lọc những giá trị pháp lý phổ quát, đồng thời bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật quốc gia với các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Điều này cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong xử lý những vụ án có yếu tố nước ngoài, sử dụng và đánh giá chứng cứ từ nước ngoài, thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp và phối hợp đấu tranh với tội phạm xuyên quốc gia.

2.6. Chính sách 6: Luật hóa các chế định đã triển khai thí điểm; sửa đổi, bổ sung thủ tục tố tụng hình sự để khắc phục vướng mắc, bất cập qua tổng kết thực tiễn

Chính sách thứ sáu thể hiện rõ một phương pháp lập pháp quan trọng, đó là không chỉ xây dựng cái mới mà còn phải kịp thời luật hóa những cơ chế đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời sửa đổi những quy định bộc lộ vướng mắc, bất cập. Sau một thời gian thi hành, pháp luật tố tụng hình sự luôn đứng trước sự vận động của thực tiễn tội phạm, công nghệ, tổ chức bộ máy và các quan hệ xã hội. Những quy định từng phù hợp tại thời điểm ban hành có thể phát sinh khoảng trống hoặc bất cập khi điều kiện thực tiễn thay đổi. Vì vậy, việc tổng kết thực tiễn thi hành, nhận diện chính xác những quy định đã phát huy hiệu quả và những quy định cần tiếp tục hoàn thiện là điều kiện quan trọng bảo đảm tính khả thi của đạo luật.

Tinh thần này thể hiện khá rõ trong Hồ sơ Dự án BLTTHS sửa đổi về thủ tục rút gọn. Dự kiến sửa đổi không chỉ mở rộng phạm vi áp dụng mà còn thiết kế lại trình tự, thủ tục theo hướng bảo đảm nhanh chóng, khả thi; quy định cụ thể trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; đồng thời thiết lập cơ chế hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn khi không còn đủ điều kiện và chuyển sang giải quyết theo thủ tục chung. Đây là biểu hiện của một phương pháp lập pháp thực chất: thực tiễn là thước đo của tính khả thi, nhưng không phải mọi thực tiễn đều mặc nhiên được luật hóa. Chỉ những cơ chế đã được kiểm nghiệm, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân, kiểm soát quyền lực và hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mới có cơ sở để được nâng lên thành quy phạm pháp luật.

3. Ý nghĩa lịch sử và kỳ vọng bước chuyển mình của nền tư pháp

Dự án BLTTHS sửa đổi được xây dựng trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta. Đây không chỉ là hoạt động sửa đổi, bổ sung một đạo luật sau một thời gian thi hành, mà là sự tiếp tục thể chế hóa những định hướng lớn của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp, kiểm soát quyền lực và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình hình mới. Chính vì vậy, ý nghĩa của Dự án cần được nhìn nhận ở tầm rộng hơn những quy phạm tố tụng cụ thể, đó là kỳ vọng về một bước chuyển mình căn bản trong tư duy, phương thức và hiệu quả hoạt động tư pháp hình sự. Thực tiễn hơn 8 năm thi hành BLTTHS năm 2015 đã cung cấp một nền tảng quan trọng để nhận diện những quy định còn phù hợp cần tiếp tục kế thừa, đồng thời chỉ ra những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hoặc luật hóa. Việc VKSND tối cao tổ chức tổng kết thực tiễn, xây dựng hồ sơ chính sách, tham vấn rộng rãi các cơ quan, tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học trước khi hoàn thiện Dự án cho thấy lần sửa đổi này được đặt trên phương pháp tiếp cận lấy thực tiễn pháp lý làm cơ sở, cải cách tư pháp làm định hướng và hiệu quả bảo vệ công lý làm mục tiêu.

Sáu chính sách được Viện trưởng VKSND tối cao thông qua ngày 8/7/2026 vì thế mang ý nghĩa như một tuyên ngôn chính sách đối với quá trình đổi mới tố tụng hình sự: Tinh gọn nhưng không giản đơn; phân hóa nhưng không tùy tiện; khoan hồng nhưng không buông lỏng đấu tranh phòng, chống tội phạm; phân quyền nhưng phải đi liền với kiểm soát quyền lực; chuyển đổi số nhưng phải bảo đảm an toàn, an ninh và giá trị pháp lý của dữ liệu; hội nhập nhưng trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Từ góc độ đó, Dự án BLTTHS (sửa đổi) có thể được kỳ vọng như một mốc chuyển tiếp từ nền tư pháp đang cải cách sang nền tư pháp hiện đại, nơi pháp luật không chỉ đặt ra những giới hạn cho quyền lực mà còn tạo ra những phương thức hữu hiệu để quyền lực được thực thi vì công lý; nơi công nghệ không chỉ hỗ trợ con người mà trở thành một phương thức tố tụng; nơi sự nghiêm minh của pháp luật được đặt song hành với tính nhân văn và nơi mọi cải cách cuối cùng đều quy tụ về một giá trị trung tâm - công lý phải được thực hiện kịp thời, đúng pháp luật, khách quan, minh bạch và bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền công dân./.

VKSND tỉnh Lai Châu trân trọng đăng tải Hồ sơ, tài liệu Dự án BLTTHS sửa đổi do VKSND tối cao chủ trì soạn thảo để các cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu, tham gia đóng góp ý kiến, góp phần hoàn thiện Dự án Bộ luật, bảo đảm tính khoa học, khả thi, đồng bộ của các quy định pháp luật tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

Trân trọng kính mời độc giả truy cập link sau để khai thác, nghiên cứu Hồ sơ, tài liệu Dự án BLTTHS sửa đổi:

https://vksndlaichau.gov.vn/ho-so-tai-lieu-du-an-bo-luat-to-tung-hinh-su-sua-doi-dang-duoc-vien-kiem-sat-nhan-dan-toi-cao-trinh-quoc-hoi-thong-qua-va-lay-y-kien-trong-toan-dan

Nông Bình, Văn phòng VKSND tỉnh